CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ
XEM XÉT KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC
GIÁM ĐỐC THẨM NHỮNG BẢN ÁN TRÁI PHÁP LUẬT
Kính gửi:
|
-
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
-
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
|
1. Người đề nghị xem xét kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Công dân Trần Thị Lợi.
Sinh năm: 1954.
Chứng minh thư nhân dân số: 200233384 do Công an Quảng
Nam - Đà Nẵng cấp ngày 13/07/1994.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 57 (Tổ 20 cũ),
phường Hoà Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
2. Người giải quyết đề nghị xem xét kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm
2.1. Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao
Nơi công tác: Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao ở số 48,
phố Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
2.2. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Nơi công tác: Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân tối cao số
44, phố Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
3. Những bản án bị đề nghị xem
xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
4.1. Bản án Hành chính sơ thẩm số: 01/2012/HC - ST
ngày 26/9/2012 của của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
4.2. Bản án Hành chính phúc thẩm số: 05/2012/HC - PT
ngày 28/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong các
bản án trên như sau: Chúng tôi là người khởi kiện. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận
Ngũ Hành Sơn là người bị kiện. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng là
người liên quan.
4. Quyết định hành chính bị chúng
tôi khởi kiện
Quyết định số 248/QĐ - UBND ngày 21/02/2011 của Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân quận Ngũ Hành Sơn là xử phạt vi phạm hành chính đối với bà
Trần Thị Lợi với lý do không chấp hành Quyết định số 5320/QĐ - UBND ngày
16/07/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc thu hồi đất, giao đất,
vi phạm điều 17 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của
Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi tắt
là Quyết định số 248/QĐ - UBND) và Quyết định hành chính số 431/QĐ-UBND ngày
03/03/2011 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận Ngũ Hành Sơn về việc cưỡng chế thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi
tắt là Quyết định số 431/QĐ - UBND). Các quyết định này thể hiện địa vị pháp lý
của cơ quan, tổ chức, cá nhân như sau:
4.1.
Người ban hành quyết định hành chính
Chủ
tịch Uỷ ban nhân dân quận Ngũ Hành Sơn.
4.2.
Lĩnh vực quản lý nhà nước: Quản lý Đất đai.
4.3.
Hoạt động quản lý nhà nước cụ thể trong lĩnh vực quản lý Đất đai: Xử phạt vi
phạm hành chính và quyết định cưỡng chế thu hồi đất.
4.4.
Người bị Xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế thu hồi đất là tôi
- Công dân Trần Thị Lợi.
5. Những nội dung trái pháp luật
của Quyết định số 248/QĐ - UBND Quyết định số 431/QĐ - UBND
Những
nội dung trái pháp luật của Quyết định số 248/QĐ - UBND Quyết định số 431/QĐ -
UBND rất đơn giản và quá dễ hiểu là: Tôi - Trần Thị Lợi không có quyền sử dụng
đất để trả lại cho Nhà nước nhưng vẫn bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận Ngũ Hành
Sơn ra Quyết định số 248/QĐ - UBND ngày 21/02/2011 xử phạt vi phạm hành chính
đối với bà Trần Thị Lợi với lý do không chấp hành Quyết định số 5320/QĐ - UBND
ngày 16/07/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc thu hồi đất, giao
đất, vi phạm điều 17 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009
của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và Quyết
định hành chính số 431/QĐ-UBND ngày 03/03/2011 về việc cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Trần Thị Lợi.
Tôi
- Trần Thị Lợi đã bị cưỡng chế thu hồi đất ngày 29/7/2011. Cưỡng chế to và
hoàng tráng như Lê Văn Hiền, Chủ tịch huyện Tiên Lãng cưỡng chế Đoàn Văn Vươn.
Các
bản án hành chính đều tuyên các quyết định hành chính: Quyết định số 248/QĐ -
UBND và Quyết định số 431/QĐ - UBND là đúng. Các bản án này đều trái pháp luật.
6. Đề nghị
Tôi đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy 02 bản án trái pháp luật: Bản án
Hành chính sơ thẩm số: 01/2012/HC - ST ngày 26/9/2012 của của Tòa án nhân dân
quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà và Bản án Hành chính phúc thẩm số: 05/2012/HC -
PT ngày 28/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng này đi để bảo vệ công
lý và đạo lý cho chúng tôi.
Vợ chồng chúng tôi là Phạm Văn Hạ và Trần Thị lợi đã
làm đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm hủy các Bản án Hành
chính sơ thẩm số: 01/2011/HC - ST ngày 05/7/2011 của Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng và Bản án Hành chính phúc thẩm số: 06/2011/HC - PT ngày 30/9/2011 của
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến, khi đó là Phó Chánh tòa,
phụ trách Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành trái pháp luật
Công văn số 500/TANDTC - HC ngày 5 tháng 11 năm 2012 với trích yếu là “V/v trả
lời đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm” trả lời chúng tôi. Trong
công văn này Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến đã vu khống tôi - Trần Thị Lợi là người
lấn, chiếm đất đai.
Chúng tôi đã tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công
an nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội với nội dung tố cáo là: Công chức,
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến ban hành công văn
này kết luận chúng tôi đã có hành vi lấn, chiếm đất đai. Hành vi của công chức
này có dấu hiệu phạm tội các tội “Vu khống” và “Làm nhục người khác” được quy
định trong các điều 121 và 122 Bộ luật Hình sự.
Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an nhân dân quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội đã chuyển đơn tố cáo của chúng tôi cho Tòa án nhân dân
tối cao giải quyết.
Đến nay, đã quá thời hạn giải quyết tố cáo rất nhiều
lần nhưng Tòa án nhân dân tối cao không giải quyết tố cáo cho chúng tôi.
Chúng tôi sẽ
tố cáo tiếp lên Chủ tịch nước trong thời gian tới.
Vì lý do này, chúng tôi đề nghị Tòa án nhân dân tối
cao không để Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến tham mưu cho Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao giải quyết các đơn đề nghị giám đốc thẩm của chúng tôi.
7. Tài liệu gửi kèm theo đơn
1, Bản án Hành chính sơ thẩm số: 01/2012/HC - ST ngày
26/9/2012 của của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (bản có chứng thực).
3, Bản án Hành chính phúc thẩm số: 05/2012/HC - PT
ngày 28/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (bản có chứng thực).
3, Công văn số 500/TANDTC - HC ngày 5 tháng 11 năm
2012 (bản photo).
8. Mong đợi và cảm ơn.
Chúng tôi rất mong sớm nhận được kháng nghị của các
đồng chí, xin trân trọng cảm ơn !
Nơi nhận:
- Như kính gửi;
- Ban chỉ đạo Cải cách Tư pháp trung ương (Để báo cáo và nhờ giúp đỡ);
- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (Để báo cáo, nhờ giám sát và giúp đỡ);
- Ban cán sự Đảng
Tòa án nhân dân tối cao(Để báo cáo, nhờ giám sát và giúp đỡ);
- Thanh tra Tòa
án nhân dân tối cao (Để báo cáo và nhờ giúp đỡ);
- Ban Nội chính Thành uỷ thành phố Đà Nẵng (Để báo cáo, nhờ giám sát và giúp đỡ);
-
Đăng tải trên http://phamvanhadanang.blogspot.com
(để nhờ công đồng giúp bảo vệ công lý).
- Lưu 10 bản.
|
Hòa Hải, ngày 06 tháng
12 năm 2013
Người đề nghị
(Đã ký)
Trần Thị Lợi
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét